PDA

View Full Version : Âm thanh Tây Nguyên..


vungtau
14-09-2012, 10:18 AM
Với bà con các dân tộc Tây Nguyên (gồm năm tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum), năng lực và cảm xúc văn hóa luôn gần gũi với thiên nhiên, đã tạo nên những cung bậc âm thanh tha thiết của cộng đồng người trên vùng đất đỏ từ nghìn đời nay.

Mùa “Ăn năm, uống tháng” ở Tây Nguyên bắt đầu khi mưa rừng dứt hẳn, người ta tạm quên đi những vất vả của mưu sinh để trả nghĩa với thần linh, cha mẹ và giao đãi với bầu bạn. Rượu Cần tuôn chảy cong vút theo cần. Những cây đàn dân gian lên tiếng rộn ràng…

Dân tộc nào ở Tây Nguyên cũng có những dàn chiêng đồng. Chiêng có thể coi như tiếng nói tâm linh của con người, gắn bó với đời sống cộng đồng từ lúc mẹ cha làm lễ “thổi tai” cho đứa con yêu dấu mới ra đời, đến lúc đi về “bến nước làng Trời”. Mỗi dân tộc một âm điệu, một cách diễn tấu khác nhau. Các bộ chiêng của người Tây Nguyên có từ bao giờ, xuất xứ ở đâu chưa ai biết.

Nhưng tiếng chiêng ngân nga trong lễ hội thể hiện tâm hồn và tính cách của các tộc người Tây Nguyên. Không phải ngẫu nhiên dàn chiêng Ê-đê lại được mời đại diện cho “họ hàng nhà chiêng” tham dự Liên hoan Âm nhạc châu Á - Thái Bình Dương. Rồi lại lựa chọn bốn bài và một điệu hát Ây-rây Ê-đê đưa vào kho tàng tinh hoa âm nhạc khu vực.

Mỗi bộ chiêng Ê-đê có 10 chiếc. Ba chiếc có núm gọi là Ching, làm bè đệm cho hòa tấu. Bảy chiếc không có núm gọi là Knă, đảm nhận phần giai điệu chính (trừ chiêng Char). Thường người ta sử dụng có chín chiếc, còn Ching moong chỉ dùng khi có đám tang. Những chiếc Knă đối đáp nhau, đuổi theo nhau trên bè trầm ngân nga của Char, của Ana Ching và nền của Mdu. Tiết tấu chiêng Ê-đê rất nhanh, dồn dập, sôi nổi như thác reo, gió thổi, nghệ nhân phải rất điêu luyện mới có thể cùng hòa tấu được.

Âm thanh dàn chiêng Knă Ê-đê vang xa, mạnh mẽ bởi sự va đập của cả bồi âm từ chín chiếc chiêng cùng một lúc tấu lên. Cũng còn bởi dùi làm bằng chất liệu gỗ cứng, hoặc tre đực, gõ thẳng vào mặt phẳng của những chiêng bằng. “Trường ca Đam San” từng kể về tiếng chiêng Ê-đê: “Vút bay qua xà nhà vang lên tới chín tầng mây xanh. Lọt qua sàn lan đến bảy tầng vực sâu đất đen...”.

Một dàn chiêng khác cũng không kém phần độc đáo là chiêng Aráp của người Gia-rai. Chiêng Aráp một bộ có từ bảy đến mười chiếc gồm ba chiêng núm đảm trách phần đệm, còn lại là chiêng bằng. Đi đôi với chiêng Aráp bao giờ cũng có điệu múa Xoang. Người ta thường tăng số lượng những chiếc chiêng núm lên để làm cho phần đệm thêm đầy đặn, do đó đôi khi bộ chiêng núm còn có bọc. Tiết tấu chiêng Aráp cũng rộn ràng, nhưng ngân nga hơn, mời gọi tay nắm tay, chân bước vào vòng Xoang và cùng hòa tiếng hát.

Kế đến là những chiếc tù và. Các dân tộc ở Tây Nguyên đều sử dụng sừng trâu bò làm tù và mà người Ê-đê gọi là Kipah. người Mnông gọi Nung, người Ba-na gọi T'diep... Chiếc sừng được cưa một đoạn ngắn, thủng cả hai đầu. Ở giữa, trên phần cong vào, khoét một lỗ nhỏ và đặt vào đó một chiếc “lưỡi gà” (như một chiếc dăm kèn), gắn lại bằng sáp ong. Khi thổi, tay trái cầm ngang thân kèn, ngón cái bịt đầu nhỏ, miệng ngậm vào “lưỡi gà”, tay phải day chặn ở đầu to tạo ra những âm thanh khác nhau. Tiếng kèn dài, ngắn, nhanh, chậm do điều khiển bằng lưỡi và luồn hơi, kết hợp với sự bịt mở các ngón tay ở cả hai đầu to nhỏ của kèn. Chiếc Nung của người Mnông đặc biệt hơn, gồm hai chiếc lớn nhỏ.

Nung lớn tiếng trầm hùng, vang dội dùng làm hiệu lệnh chiến đấu hay báo hiệu. Nung nhỏ tiếng thánh thót, lảnh lót sử dụng trong các lễ hội đâm trâu. Sáng sớm tinh mơ, sương mù còn che phủ núi rừng, hay hoàng hôn buông xuống... tiếng tù và xa xăm nghe da diết và gợi nhớ.



38110


Già, trẻ người Ê-đê đều thích đánh chiêng.




Khác với dàn chiêng, tù và chỉ được dùng có nơi, có lúc, đàn T'rưng luôn gắn bó với mọi sinh hoạt đời thường của các dân tộc Gia-rai, Ba-na, Xê-đăng... Trên nương rẫy, tiếng T'rưng xua tan mệt mỏi của một ngày lao động vất vả, báo hiệu sự hiện diện của con người, khiến thú rừng không dám đến phá rẫy. Có loại T'rưng tự hoạt động bằng sức nước. Người ta treo những ống nứa to nhỏ, dài ngắn khác nhau, một đầu giữ nguyên mấu, bịt kín, còn đầu kia vạt nhọn chỉ còn nửa thân ống, cùng một hệ thống với que gõ ở ngoài suối.

Tất cả lại được nối với một chiếc gàu nhỏ. Nước chảy, gàu đầy kéo theo sự chuyển động của hệ thống dây buộc những ống nứa, khiến nó va đập vào nhau, vang thành âm thanh, ngân nga suốt đêm ngày. Một loại đàn T'rưng khác thường dùng trong buôn làng cũng gồm những ống nứa khác nhau. Ống to, dài, có âm thanh trầm. Ống nhỏ, ngắn âm thanh cao, trong trẻo. Có khi chỉ một người gõ, cũng có khi hai người cùng hòa. Một người đánh ống trầm, giữ phần đệm, người kia chạy giai điệu trên những ống cao. Tiếng T'rưng như suối chảy, chim kêu, rộn ràng vui khắp buôn làng. Dáng đàn T'rưng cong như dáng núi đồi. Chỉ là những ống nứa mà biết nói lời vui.

Đàn Klông put là loại nhạc cụ rất đặc biệt chỉ dành cho phụ nữ của người Xê-đăng, Ba-na, Srá. Khác với T'rưng, Klông put là những ống nứa rỗng hai đầu dài ngắn khác nhau. Ống dài cho âm thanh trầm. Ống ngắn cho âm thanh cao. Được đặt trên một giá đỡ. Người đánh đứng khom lưng trước hàng ống, hai bàn tay vỗ vào nhau, tạo nên luồng không khí, lùa vào làm chuyển động trong lòng ống phát ra âm thanh. Tiếng bì bọp của Klông put khỏe khoắn, phóng khoáng, hơi bí ẩn xa xăm. Có thể một người đánh, nhưng cũng có thể vỗ mỗi người một đầu.

Đàn T'rưng và Klông put đã được các nghệ sĩ chuyên nghiệp cải tiến, nhiều nốt đơn, đánh được những bài bản khó hơn, biểu diễn phục vụ trong nước và quốc tế, ở đâu cũng được yêu mến và khâm phục về sự sáng tạo của các nghệ nhân Tây Nguyên.

Đàn Goong (còn gọi là Ting ning), dân tộc nào cũng có, cấu tạo cơ bản giống nhau, gồm một ống nứa khoét lỗ để mắc dây đàn. Dây đàn trước đây làm bằng cật nứa, nay đã thay bằng dây thép nhỏ. Đàn có từ 6-12 dây, tùy theo tài nghệ diễn tấu của nghệ nhân. Dân tộc Ba-na có gắn thêm một quả bầu làm hộp cộng hưởng, cho âm thanh vang hơn. Người Ê-đê, Gia-rai không có quả bầu, nhưng khi đánh có thể kê lên một vật rỗng tạo sự cộng hưởng. Tiếng đàn Goong thánh thót, có sức truyền cảm; những sợi dây đàn rung lên dưới bàn tay tài hoa của người con trai, tỏ bày tình yêu nam nữ. Chính vì vậy nên ngày nay vẫn còn nhiều thanh niên biết chơi đàn này. Đàn Goong có mặt ở mọi nơi, theo bước chân các chàng trai cô gái trên đường đi rẫy, hay kề bên nhau tâm sự trong lễ hội ở buôn làng...

Sau cùng, có thể nói về kho tàng ca hát của các tộc Tây Nguyên. Bởi dù là giai điệu rộn ràng, dịu êm, khỏe khoắn hay trữ tình, tự sự hay hoan ca... mỗi bài là một sự sáng tạo ngẫu hứng đầy đam mê. Nó phong phú về thể loại, sâu sắc về nội dung, dí dỏm, thông minh, đôi khi cả thâm thúy trong ý tứ.

Lời chàng trai Gia-rai thở than khi xa cách người yêu: “Chạm phải con đường xưa tim anh rũ rụng/ Chạm phải con đường mòn tim anh nóng bừng”. Còn lời tỏ tình mãnh liệt của cô gái Mạ: “Lược ngà anh giắt mái tóc xoăn/ Để em về đêm thương, ngày nhớ/ Em muốn ôm anh vào trước ngực/ Như được đắp tấm chăn êm...”. Rồi họ cùng nhau hát: “Ước váy em treo cành cây Tang/ Ước áo anh treo cành cây Tung/ Ước người ta cùng sưởi bên lửa hồng/ Xuống suối cùng em bắt cá/ Lên rừng cùng anh hái rau”.

Sau ngày đất nước thống nhất, Tây Nguyên có thêm 20 dân tộc anh em ở phía Bắc vào định cư. Bên cạnh dân ca, dân nhạc của người bản địa, tiếng Sáo, Khèn dân tộc Mông, Tính Tẩu dân tộc Tày, Nùng, dân ca Thái, Mường, Dao, v.v… góp vào bản sắc đa dạng, phong phú, làm đẹp thêm kho tàng âm nhạc dân gian của Tổ quốc Việt Nam.